Archive for the ‘Nước Mỹ ký sự’ Category

Có được giấc mơ Mỹ là mất đi người mẹ Việt Nam

TERI MADDOX

21-02-2010

Rob Nguyễn đã không nhìn thấy người mẹ Việt của mình trong 34 năm, nhưng anh đã nhận ra bà ngay lập tức khi anh ra khỏi máy bay ở TP Hồ Chí Minh.

Phan Thu Lan, 55 tuổi, thì mỏng manh và yếu đuối. Bà là nạn nhân của nghèo đói cùng cực và những đau buồn riêng tư. Bà không nói được tiếng Anh.

“Thật là cảm động”, Rob 36 tuổi, sống ở Belleville, nói được chút tiếng Việt. “Thật khó giải thích. Bà đã nhìn chằm chằm vào tôi với cái nhìn tôn kính pha lẫn sợ hãi và cảm giác giải toả. Bà xoa cánh tay tôi. Chúng tôi đã không nói nhiều trên đường về nhà bà, nhưng bà vẫn liên tục nhìn tôi bằng ánh mắt đẫm lệ. Tôi cảm thấy thật dễ chịu”.

Rob lên 2 khi anh chạy thoát sang Hoa Kỳ với bà ngoại (hay bà nội) trong thời gian Sài Gòn sụp đổ. Mẹ anh dự định là sẽ đi theo một tuần sau đó, nhưng lỡ hẹn với người cha, một người lính Nam Việt Nam và đã đã bị kẹt lại.

Bà Lan có hai cô con gái, 32 tuổi và 15 tuổi, từ cuộc hôn nhân (hay cuộc tình?) khác. Bà sống trong một căn nhà xập xệ bằng bê tông với mái nhà bằng kim loại, nấu ăn và dọn dẹp các căn phòng để đổi lấy miếng ăn và chỗ ở.

Rob bị sốc khi nhìn thấy giường của bà, một mảnh ván ép với một tấm chăn làm nệm. Trong nhà không có vòi tắm hoa sen nên bà đun nóng nước để tắm.

“Khi bạn lớn lên ở Hoa Kỳ, bạn đi đến một nước thuộc thế giới thứ ba, và bạn thấy điều kiện sống … Nó làm cho bạn thực sự quý trọng những gì bạn có,” Rob nói. “Và nó thực sự làm tôi cảm thấy có lỗi. Tôi nghĩ, bà đã sống như thế trong bao nhiêu năm nay”.

Chuyến đi của Rob về Việt Nam đã diễn ra hơn một năm trước đây. Anh muốn đưa mẹ anh tới Hoa Kỳ, ít nhất là tạm thời, nhưng các quan chức chính phủ đã từ chối hai yêu cầu của anh.

“Tôi hiểu tình hình”, anh nói. “Họ lo sợ bà sẽ ở lại mà không trở về Việt Nam. Nhưng thật là bực mình. Tôi muốn bà sang đây thăm tôi và gặp những đứa cháu nội. Không phải tôi đang cố đưa bà đi một cách nhanh nhất”.

Giá trị gia đình

Tệ quan liêu liên quan đến cơ quan Di Trú là một chuỗi thử thách gần đây nhất mà Rob và Star, vợ ông, phải đối mặt.

Họ nhận nuôi năm đứa trẻ từ hai người chị (hoặc em) gái của Star trong bốn năm qua để đưa chúng ra khỏi nơi nuôi dưỡng [của chính phủ]. Hai người cũng có hai con chung với nhau.

“Tôi biết mình phải vật lộn với cuộc sống ra sao khi không có mẹ”, cô Star, 32 tuổi, người mà mẹ đã ra đi khi còn là một đứa trẻ mới biết đi. “Tôi không muốn những đứa cháu của tôi phải trải qua cuộc sống như thế”.

Star giữ lại những đứa trẻ, tuổi từ 4-13, trông tươm tất với quần áo từ các cửa hàng tiết kiệm. Cô mua sắm ở cửa hàng Sam để được giá rẻ cho số lượng lớn thực phẩm, vật dụng dùng cho phòng tắm và đồ dùng trong gia đình.

Rob làm việc thêm giờ mỗi khi có thể, anh sửa chữa và bảo trì dây điện cho AmerenUE tại St Louis, leo lên các cây cột điện và sửa chữa những máy biến thế điện.

“Thật ngạc nhiên khi anh ấy lên được vị trí mà anh ta đang có, cân nhắc việc anh ấy đến từ vị trí nào”, Giám sát viên, ông Sam Hardin, người mô tả Rob là một người “rất cần cù, rất chân thành và cũng rất được ưa thích.”

Đứa con trai nhỏ tuổi nhất của Rob và Star, Isaiah Nguyễn, 4 tuổi, đang học trường Jefferson School ở Belleville. Savanna, 5 tuổi, Shyanne, 6 tuổi, Constance, 7 tuổi, và Jeramiah, 11 tuổi, đang học trường Abraham Lincoln School. Jasmine và Robby, 13 tuổi, học trường tiểu học West Junior High School.

Mỗi đêm, các thành viên trong gia đình ngồi trong một vòng tròn và chia sẻ với nhau những câu chuyện trong ngày của họ trước khi ăn, chơi game hay xem phim với nhau.

Gia đình Nguyễn thỉnh thoảng ăn ở nhà hàng Việt Nam tại Lake Christine và mua đồ ăn vặt ở chợ Oriental, St Louis. Rob đã dạy cho các con đếm tới 10 bằng tiếng Việt.

“Tôi có nhiều người quen ngưỡng mộ gia đình này”, bà Jenny Schroeder, ở Belleville, người đã học một lớp Kinh Thánh với Star ở nhà thờ Christ United Methodist Church.

“Họ sống khép kín. Họ làm việc với nhau để giữ ổn định trong gia đình. Mỗi người có trách nhiệm riêng của mình. Có sự tôn trọng lẫn nhau. Tôi khâm phục họ và những giá trị cốt lõi của họ. Rất hay để học hỏi”.

Người tị nạn Việt Nam

Rob không thể nhớ sự kiện tiến chiếm Sài Gòn của Bắc Việt, đánh dấu sự kết thúc Chiến tranh Việt Nam vào năm 1975. Anh chỉ có những ký ức mơ hồ về việc đến California như một người tị nạn.

“Tôi nhớ một người lính Hoa Kỳ mặc áo choàng cho tôi và họ cầm ngón tay tôi lăn vào mực để lấy dấu vân tay”, Rob nói. “Đó là Camp Pendleton mà sau này tôi đã tìm ra.”

Rob được nuôi bởi bà nội (hay bà ngoại ?) trong một căn nhà đầy ắp họ hàng người Việt ở Lawndale, California. Họ thay phiên nhau làm việc để cùng lo cho nhau học xong ở trường thương mại.

Rob và Star gặp nhau khi họ là hàng xóm láng giềng. Cô đã chuyển đến California khi còn là một thanh thiếu niên, để xích lại gần với người mẹ ghẻ của cô.

Hai người (Rob and Star) tin rằng hoàn cảnh lớn lên không có mẹ đã làm cho họ dính kết nhau một cách nhanh chóng. Rob 21 tuổi và Star 16 tuổi khi họ lái xe đến Las Vegas kết hôn.

“Tôi đi học vào ban đêm và làm việc ở Denny”, Star nói. “Anh ấy làm ba công việc, là một nhân viên nhà máy sản xuất kim loại, nhân viên dọn dẹp ở cửa hàng Kids “R” Us và cuối tuần đi làm vườn”.

Star không có bằng lái xe, và Rob thì không có xe. Anh ta đạp xe 5 dặm, đẩy xe đạp cho Star để cô có thể về nhà từ nhà hàng.

Kể từ đó, Rob đã làm việc tại một nhà máy sản xuất phụ tùng ô tô, cửa hàng tiện và hầm mỏ khai khoáng. Anh thậm chí làm cả công việc đóng hộp trong vài năm để kiếm thêm tiền.

Hai người dọn đến Belleville vào năm 2003, khi Rob tìm được công việc ở hãng AmerenUE. Anh đã trở thành công dân Mỹ năm ngoái.

Rob và Star hy vọng các quan chức chính phủ cuối cùng sẽ cho phép mẹ và đứa em gái 15 tuổi du lịch đến Hoa Kỳ từ Việt Nam.

“Thật tình thì tôi nghĩ rằng, đối với tôi đó là việc có ích nếu mẹ và em gái của anh ấy đến đây,” Star nói. “Họ cùng chung một gia đình. Những đứa trẻ thật sự không có cô, chú gì cả. Tôi đã làm mọi thứ một mình”.

Người dịch: Ngọc Thu

Vietnamnet: Ngày tàn của một đế chế (I)

General Motors Corp (GM) – hãng xe hàng trăm năm tuổi, trong đó có 77 năm liền ngự trị ở ngôi vị số 1 thế giới trong ngành công nghiệp ô tô và mới chỉ để tuột ngôi vào năm 2008 – đã phá sản. Một công ty GM mới đã hình thành khi Tòa án Liên bang Mỹ chấp thuận kế hoạch bán tài sản của GM.

(Ảnh: ceoworld)

GM là nhà sản xuất ô tô của Mỹ có trụ sở ở Detroit, Michigan. Tập đoàn này sản xuất xe hơi và xe tải ở 34 quốc gia với tổng số nhân công vào khoảng 244.500 người, tiêu thụ và thiết lập dịch vụ liên quan tới xe cộ ở 140 nước. Năm 2008, 8,35 triệu xe hơi và xe tải của GM được bán trên phạm vi toàn cầu dưới các thương hiệu Buick, Cadillac, Chevrolet, GMC, GM Daewoo, Opel, Vauxhall, Holden, Pontiac, Hummer, Saab, Saturn và Wuling.

Cuối năm 2008, GM cùng với một đại gia ô tô khác của Mỹ là Chrysler, đã nhận các khoản vay từ chính phủ Mỹ, Canada và Ontario để tránh phá sản – kết quả sự sụt giảm kéo dài trong tiêu thụ liên quan tới suy thoái, giá dầu kỷ lục, chi phí chăm sóc y tế và lương hưu, sự cạnh tranh gay gắt của các nhà sản xuất ô tô khác trên thế giới.

Ngày 20/2/2009, chi nhánh Saab của GM đệ trình kế hoạch tái cơ cấu lên một toà án Thuỵ Điển sau khi bị chính phủ nước này từ chối cho vay tiền. Ngày 27/42009, giữa lúc sa vào hàng loạt vấn đề tài chính và nỗ lực tái cơ cấu, GM tuyên bố từng bước bỏ thương hiệu Pontiac vào cuối năm 2010 và tập trung vào bốn thương hiệu của hãng ở Bắc Mỹ: Chevrolet, Cadillac, Buick, và GMC.

Ngày 24/4/2009, GM nhận 15,4 tỉ USD vay từ Bộ Ngân khố Mỹ trong Chương trình Hỗ trợ các Tài sản xấu (TARP). GMAC, một công ty tài chính do GM nắm giữ 49% nhận 5 tỉ USD vay từ chương trình tương tự. General Motors Canada, do GM sở hữu 100% nhận được cam kết cho vay 3 tỉ đô la Canada từ chính phủ Canada và Ontario.

Ngày 1/6/2009, General Motors đệ đơn xin bảo hộ phá sản theo chương 11 tại một toà án liên bang ở Manhattan, New York với kế hoạch tái tổ chức một công ty mới, quy mô nhỏ hơn để nâng tính cạnh tranh trong vòng vài tháng. Đứng về góc độ tổng tài sản, đây là vụ phá sản lớn thứ tư trong lịch sử nước Mỹ, tiếp theo Lehman Brothers Holdings Inc., Washington Mutual và WorldCom Inc.

Kế hoạch tái cấu trúc của GM đã vấp phải hơn 850 đơn chống đối chủ yếu từ cổ đông gửi đến Tòa. Tuy nhiên những đơn chống đối đó đã vô hiệu khi Tòa án liên bang Mỹ chấp thuận kế hoạch bán các tài sản của người khổng lồ nước Mỹ vào tối 5/7. Theo đó, phần tài sản sinh lợi nhất của GM bao gồm nhà máy và các thương hiệu làm ăn hiệu quả sẽ được bán cho công ty GM mới do Chính phủ Mỹ điều hành.

Ngày 6/7, phát biểu trước báo giới, đại diện GM nói hoạt động kinh doanh của GM mới được mong đợi sẽ vận hành tức thì và hoàn toàn có tính cạnh tranh với các công ty xe hơi khác. Nhân công GM hiện thời đang được tuyển lựa vào công ty mới. Các công ty con của GM ở ngoài nước Mỹ sẽ về tay công ty mới và được mong đợi sẽ hoạt động bình thường, không bị gián đoạn.

Đế chế vinh quang

William “Billy” Durant sáng lập ra thương hiệu General Motors (GM) vào năm 1908 tại thành phố Flint, bang Michigan (Mỹ). Ngay từ những ngày đầu, Durant muốn tập hợp các nhà sản xuất xe hơi riêng lẻ về một mối, thay vì cạnh tranh với nhau trên thị trường. Trong đó, mỗi thành viên sẽ đảm nhiệm những khâu nhất định. Với ý tưởng này, Durant tăng quy mô GM lên gấp đôi vào năm 1908 bằng cách mua lại Công ty Oldsmobile. Sau đó, ông tiếp tục mua Cadillac, Cartercar, Elmore, Ewing và Oakland vào năm 1909, rồi Welch và Rainier vào những năm 1910.

Doanh số bán hàng của General Motor cho năm tài chính trọn vẹn đầu tiên của công ty kết thúc vào ngày 31/12/1909 với tổng số xe con và xe tải bán được là 25.000 chiếc, chiếm 19% tổng doanh số của cả nước Mỹ. Mạng lưới bán hàng thu được tổng cộng 29.030.000$ và tổng số nhân viên trong thời gian sản xuất đỉnh điểm là hơn 14.000 nguời hầu hết ở Michigan.

Do quá mải mê đi thu mua các công ty khác, GM gánh khoản nợ khổng lồ 1 triệu USD. Năm 1910, Durant bị một nhóm các ngân hàng “truất ngôi”. Nhưng không hề nản chí, ông đứng ra đồng sáng lập thương hiệu Chevrolet và dần mua lại từng cổ phần trong GM. Đến năm 1916, ông thừa đủ quyền lực để quay lại làm Chủ tịch General Motors.

General Motors bắt đầu kế hoạch bành trướng ra quốc tế bằng nhà máy tại Đan Mạch năm 1923. Hai năm sau đó, GM thâu tóm Vauxhall Motors và mua lượng cổ phần lớn tại nhà máy ô tô Opel vào 1929. Đến tận ngày nay, Vauxhall và Opel vẫn là hai con bài “đinh” của GM tại thị trường châu Âu. Cũng trong thời kỳ này, GM xây dựng nhà máy tại Argentina, Pháp và Trung Quốc.

Thành công của những công ty cổ phần ô tô trẻ không phải là một định mệnh. Chẳng có sự đảm bảo nào cho một chỗ đứng trên thị trường và cũng chẳng có gì chắc chắn sẽ thu về lợi nhuận. Trong gần 1000 công ty đã cố gắng sản xuất và bán ô tô những năm đầu thế kỉ 20, đến năm 1927, chỉ còn chưa đầy 200 trong số này sống sót trong nền công nghiệp ô tô và cung cấp xe thương mại cho thị trường.

Hầu hết những công ty ấy, trong đó có nhà sản xuất ô tô trẻ tuổi GM, đều yếu về mọi mặt, và các hoạt động của họ chưa có sự phối hợp. Rất nhiều công ty ở trong tình cảnh nợ nần. Và tình hình chỉ trở nên sáng sủa hơn vào những năm 20 khi một mô hình quản lí mới ra đời và một mô hình sản xuất mới xuất hiện, đó là thời kì GM bắt đầu trở nên thịnh vượng.

Chìa khóa thành công của GM không phải ở việc sản xuất xe, mà chính là ở phương pháp bán sản phẩm – công ty cung cấp cho khách hàng một danh sách các thương hiệu, kiểu dáng và màu sắc để họ có thể lựa chọn. Cuộc cách mạng về phương pháp bán hàng và mô hình quản lí không phải là cách duy nhất để GM thay đổi nền công nghiệp ô tô thế giới. Hãng này đã đưa ra hàng loạt những phát minh quan trọng, bao gồm hệ thống truyền động, hệ thống lái, hệ thống phanh và động cơ phun nhiên liệu. GM là một trong những tập đoàn lớn nhất của nước Mỹ và là nhà tuyển dụng lao động lớn nhất thế giới.

Trong thời kỳ chiến tranh thế giới, GM chuyển đổi một số dây chuyền sang sản xuất máy bay, xe tăng và xe tải phục vụ quân đồng minh. Những năm 1950, GM đã có nhiều bước phát triển đáng kể. Năm 1954 đánh dấu chiếc xe hơi thứ 50 triệu của hãng.

Đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt từ các nhà sản xuất nhỏ châu Âu, GM cố gắng đáp trả bằng việc tung mẫu xe Chevrolet Corvair năm 1960. Tuy nhiên, dư luận lo ngại về độ an toàn của chiếc xe mới. Đặc biệt sau khi luật sư Ralph Nader, được mệnh danh là nhà đấu tranh cho quyền lợi người tiêu dùng, xuất bản cuốn sách “Unsafe at Any Speed”, Mỹ đã mở một cuộc điều tra quy mô về chất lượng của chiếc xe. Tình hình căng thẳng đến mức năm 1969, GM phải điều trần trước Quốc hội. Hậu quả là trong năm đó, số phận của chiếc Chevrolet Corvair đi đến hồi kết.

Rồi lần đầu tiên kể từ khi thành lập, GM gặp thua lỗ hồi những năm 1980 và cũng đã suýt rơi xuống vực phá sản vào năm 1991. Hồi đó GM thua lỗ 4,45 tỷ USD. Thời khó khăn bắt đầu từ đó và âm ỉ kéo dài song GM vẫn trụ vững trong nhiều hoàn cảnh và duy trì được ngôi vị số 1 thế giới trong ngành sản xuất ô tô toàn cầu.

Bước sang thập niên 90, năm 1995, doanh số xe con và xe tải của GM trên toàn thế giới đạt 8,3 triệu chiếc, với tổng thu nhập 6,9 tỉ USD và tổng số nhân viên trong mạng lưới toàn cầu của công ty là 714.000 người.

General Motor có 284 cơ sở trên 35 bang và 158 thành phố Hoa Kỳ. Thêm vào đó là GM của Canada với các cơ sở tại 21 địa phương, GM de Mexico với các cơ sở tại 5 địa phương, và sự phân bố của các cơ sở trên 49 quốc gia khác trên toàn thế giới.

41 quốc gia ngoài Bắc Mĩ có sự hiện diện của các chi nhánh của GM, doanh số của hãng chiếm khoảng 17% tổng số xe bán ra trên toàn thế giới. Số xe sản xuất từ các cơ sở ngoài Bắc Mỹ chiếm 1/3 tổng doanh số của toàn bộ tập đoàn. Và sản phẩm của GM (tất cả các chủng loại) được bán trên 170 quốc gia trên toàn thế giới.

Cuối thập niên 90, kinh tế Mỹ tăng trưởng, GM và Ford sở hữu thị phần lớn trong công nghiệp ô tô nhờ các khoản lợi nhuận khổng lồ từ việc bán các xe tải nhẹ và xe thể thao.

Năm 2003, lợi nhuận ròng của GM là 3,8 tỷ USD trên tổng doanh thu bán hàng là 186 tỷ USD. Có cảm tưởng như không gì có thể đe dọa được vị thế của tập đoàn này trên các thị trường của Mỹ cũng như trên thế giới.

Bắt đầu ngày tàn

Tuy nhiên, hầu như không có ai để ý tới những dấu hiệu đáng lo ngại đầu tiên khi mức lợi nhuận so với doanh số của GM thực ra là quá thấp – chỉ từ 0,9% đến 2,1% – nếu so với các hãng ô tô của Nhật và châu Âu. Ngay từ năm 2003, tỷ lệ sản phẩm của GM ngay trên thị trường chính là nước Mỹ đã bắt đầu sụt giảm, trong bối cảnh bắt đầu xuất hiện ngày càng nhiều hơn những mẫu xe của Nhật có nhiều lợi thế mang tính kinh tế hơn.

Hai đại gia của xứ sở mặt trời mọc là Toyota và Honda từ lâu đã tập trung vào việc nghiên cứu và thử nghiệm các “động cơ lai”, có thể hoạt động nhờ các nguồn năng lượng khác nhau như khí đốt, điện… hiện đang được nhìn nhận như một “sự chọn lựa của tương lai”. Tất nhiên là GM ngay từ đầu những năm 1990 cũng đã thử nghiệm những mẫu xe của tương lai này – đầu tiên là mẫu Impact và sau đó là phiên bản siêu tiết kiệm Chevrolet Volt – nhưng đáng tiếc lại không được giới lãnh đạo chú trọng đúng mức.

Việc chế tạo các mẫu thử nghiệm của Impact với nhãn hiệu EV1 đã bị đình chỉ vào năm 2003, còn Volt chỉ mới được nhắc tới vào năm 2006. Khi đó, con “át chủ bài” của ông chủ GM, Wagoner, lại hoàn toàn khác: Tập trung vào loại xe đường trường trên nhiều địa hình, cũng như xe tải nhẹ – những kiểu mẫu đem lại cho GM tới một nửa lợi nhuận, đặc biệt là tại các thị trường nước ngoài.

Ban đầu, Toyota đã phải hứng chịu những thua lỗ với việc tung phiên bản Prius với động cơ lai ra thị trường quốc tế. Tuy nhiên chỉ hai năm sau, những tổn thất này đã được đền bù một cách xứng đáng. Đến khi GM bắt đầu “sực tỉnh” thì người Nhật và châu Âu đã vượt qua khá xa. Đến thời điểm giá xăng dầu tăng lên chóng mặt, giai đoạn khó khăn của GM thực sự bắt đầu.

Năm 2005, số xe của tập đoàn bán được trên thị trường Bắc Mỹ đã thấp hơn 80% so với dự đoán. Chỉ một năm sau, tạp chí Fortune – 5 năm trước từng xếp Wagoner vào danh sách các giám đốc điều hành xuất sắc nhất – sau khi phân tích sự tình của GM đã đi đến kết luận: Tập đoàn này đang trên đà phá sản.

Khó khăn trở nên trầm trọng khi GM bị thua lỗ tới 8,6 tỷ USD trong năm 2005 và mất danh hiệu nhà sản xuất xe hơi hàng đầu thế giới vào tay Toyota năm 2007. Cũng trong năm 2007, thua lỗ của GM lên tới 38,7 tỷ USD.

Giá dầu lên tới đỉnh điểm vào mùa hè năm 2008 đã phá hỏng hoàn toàn những vị thế của GM. Tập đoàn đã phải vội vàng rao bán với giá 4 tỷ USD một số chi nhánh, kể cả nhà máy sản xuất loại xe Hummer.

Ngoài cơn sốt giá dầu, ngay sau đó là đà suy giảm kinh tế, là hai đòn mạnh liên tiếp giáng xuống GM cũng như các nhà sản xuất ô tô khác. Tính đến tháng 10/2008, GM cùng hai đối thủ Chrysler và Ford đều bị cuốn vào cuộc chiến khốc liệt để duy trì sự tồn tại. Cổ phiếu của 3 hãng không ngừng lao dốc trên sàn phố Wall. Các nhà đầu tư không còn tin vào khả năng phục hồi của ba người khổng lồ ngành xe hơi Mỹ. Chính quyền Bush từ chối chi 10 tỷ USD tiền cứu trợ mặc dù GM đã tuyên bố họ có thể bị phá sản nếu không được chi viện.

Sau khi thắng cử, Tổng thống Barack Obama bắt đầu nỗ lực cứu ba nhà sản xuất xe hơi. Tuy nhiên, nguồn viện trợ 17 tỷ USD của chính quyền đi kèm với một loạt yêu cầu cải tổ khác, mà lúc này đã trở nên khó khả thi.

* Còn tiếp

Nước Mỹ: Từ ‘Đế quốc’ đến ‘Lãnh đạo’

Tác giả: Cao Huy Thuần
Bài đã được xuất bản.: 05/02/2010 00:00 GMT+7

“Nước Mỹ lãnh đạo” là niềm tin vững như núi của nước Mỹ, dựa trên một tình trạng mà ít ai chối cãi. Tuy vậy, ngay cả sự lãnh đạo đó, bây giờ có người cho là đã lung lay, có người cho là vẫn còn đấy nhưng đã đổi khác. Vấn đề này liên quan mật thiết đến ta.

Đế quốc

Quan hệ giữa các quốc gia là quan hệ dựa trên sức mạnh. Khi một nước trở nên mạnh nhất, có khả năng bắt tất cả các nước khác phải quy phục uy quyền của mình, ta gọi nước ấy là đế quốc. Đế quốc là nước có sức mạnh tuyệt đối. Trong lịch sử, Đông hay Tây, đều có những đế quốc như vậy. Nhưng dù lâu hay mau, đế quốc nào cũng sụp đổ, không bao giờ có một đế quốc trường tồn, kể cả đế quốc La Mã ở Tây, kể cả nhà Chu, nhà Tần ở Đông. Tại sao? Tại vì nhiều lý do, từ bên trong cũng như từ bên ngoài, nhưng lý do tổng quát là: chính trị quốc tế, cũng giống như mọi chính trị, là một sự tranh giành quyền lực, nghĩa là sức mạnh.

Khái niệm vô thường áp dụng cho nước Mỹ là quá đúng và quá thích hợp. Ảnh: dangtinnhadat.vn

Trước sau gì, sức mạnh tuyệt đối cũng phải va chạm với những sức mạnh đang lên, và đế quốc, đến một lúc nào đó, hoặc phải nhường chỗ cho một đế quốc khác, hoặc phải trở thành một sức mạnh tương đối. Trong cả hai trường hợp, ta đều có thể nói theo thuật ngữ Phật giáo: sức mạnh tuyệt đối là vô thường.

Không cần đi xa vào lịch sử mấy ngàn năm ở Đông hoặc ở Tây, chỉ xét quan hệ quốc tế trong thế kỷ 20 thôi, ai cũng có thể nói: đế quốc Anh đã mất sức mạnh tuyệt đối sau Thế chiến thứ hai để trở thành một sức mạnh tương đối. Nói cách khác, đế quốc Anh đã thực chứng vô thường khi sức mạnh tuyệt đối của họ bị tương đối hóa.

Đó là tình trạng mà nước Mỹ đang gặp ngày nay. Khái niệm vô thường áp dụng cho nước Mỹ là quá đúng và quá thích hợp, vì ngay trong khi nước Mỹ đang ở trên đỉnh cao nhất của sức mạnh tuyệt đối, ngay trong khi mà cả thế giới chỉ còn một cực thôi là cực Mỹ, các chuyên gia về quan hệ quốc tế ở Mỹ đã lo lắng đặt vấn đề: liệu nước Mỹ còn trụ được ở vị thế chúa tể này lâu không, hay là sẽ rơi vào số phận của đế quốc La Mã ngày xưa, số phận của đế quốc Anh gần đây? Chưa bao giờ đề tài “suy tàn của các đế quốc” nở rộ đến thế trong tranh luận như lúc nước Mỹ vừa lên ngôi đế quốc. Tranh luận đó ngày nay vẫn còn chưa dứt tuy rằng chỉ mới có mấy năm gần đây thôi mà sức mạnh tuyệt đối của Mỹ đã bị tương đối hóa và nước Mỹ đã trở thành đế quốc mất ngôi.

Đế quốc? Danh hiệu đó đã được gán cho nước Mỹ từ lâu rồi, nhưng đích thực mà nói, vị thế đó chỉ có thể đúng khi khối Liên Xô sụp đổ. Vậy mà trong khoảng thời gian 1987-1993, đếm mấy cũng không hết những bàn cãi về đề tài đế quồc sụp đổ. Phát súng đầu tiên là quyển sách nổi tiếng của Paul Kennedy: “The Rise and Fall of the Great Powers: Economic Change and Military Conflict from 1500 to 2000 ” (Sự thăng tiến và sụp đổ của các cường quốc: Biến chuyển kinh tế và tranh chấp quân sự từ 1500 đến 2000) xuất bản lần đầu năm 1987. Sau đó, bức tường Bá Linh tan vỡ, đại quân Hoa Kỳ chiến thắng lẫy lừng trong chiến tranh Vùng Vịnh, Liên Xô tiêu vong, toàn là những đại biến cố đáng lẽ phải xác nhận vị thế chủ tể của nước Mỹ, nhưng không, luận thuyết suy tàn vẫn nổ ran sau quyển sách của Kennedy.

Tự ái của Mỹ bị chích rất đau khi những công ty đầu đàn của Mỹ bị Nhật mua. Ảnh: baomoi.com

Quyển sách đó nói gì? Nói rằng: sức mạnh quốc tế của một nước gắn liền với sức vóc kinh tế của nước đó, bởi vậy đế quốc Anh đã tàn lụi khi bành trướng quá mức – quá mức chịu đựng của kinh tế, hút cạn tài nguyên, vắt sạch khả năng tài trợ những chiếm đóng và chiến dịch quân sự. Nước Mỹ lúc đó cũng vậy, cũng vướng mắc những cam kết chiến lược quan trọng không thua gì 25 năm trước, nhưng GDP và tỷ lệ sản xuất kỹ nghệ của Mỹ 25 năm trước đây lớn hơn nhiều so với những năm 1980. Thêm nữa, 7% GDP dùng cho phí tổn khí giới hút hết tiền dành cho nghiên cứu, đẩy chất xám vào kỹ nghệ chiến tranh do Bộ Quốc phòng điều khiển, trong khi các nước khác, Nhật chẳng hạn, đổ tiền vào nghiên cứu dân sự để canh tân kỹ nghệ.

Nhu cầu ngắn hạn phục vụ chiến tranh gây ảnh hưởng tai hại trên nhu cầu dài hạn phát minh khoa học, làm suy giảm tỷ lệ sản xuất kỹ nghệ của nước Mỹ. Tất nhiên, chiến tranh thúc đẩy nhiều phát triển khoa học trong một số lĩnh vực, về khí giới, về robot, về hàng không, về tin học… nhưng luận cứ của Kennedy vẫn được khai triển tiếp về sau để nhấn mạnh công nghệ của Mỹ đã bị công nghệ của Nhật vượt qua, kinh tế của Mỹ đã bị kinh tế của Nhật lấn lướt.

Ảnh: giacaphe.com

Đó lầ đầu mối của tình trạng cơm thiếu lành canh thiếu ngọt giữa đồng minh Mỹ-Nhật trong những năm 1980. Không bóp còi, Nhật qua măt. Về hiệu quả? Tổ chức xí nghiệp của Nhật hiệu quả hơn. Về cạnh tranh? MITI của Nhật năng động hơn. Mô hình sản xuất và quản lý nào hiện đại hơn? Nhật! Chưa bao giờ, sau 1945, dân Nhật làm rợn lên vừa e dè vừa ganh ghét như thế trong lòng dư luận Mỹ. Đó là thời gian mà danh từ “Japan bashing” xuất hiện. “Đánh đòn Nhật!” Đại loại những câu bài Nhật như thế nổ ra trên báo chí. “Nước Nhật như là anh cả” (“Japan as number one”- E. Vogel), “hiểm họa đến từ Nhật”, “Pearl Harbor kinh tế”, “nước Nhật biết nói: không”… Nước Nhật thành công như công ty Nhật thành công.

Từ đó, nước Nhật trở thành “Công ty Nhật Bản”. Tự ái của Mỹ bị chích rất đau khi những công ty đầu đàn của Mỹ bị Nhật mua, Columbia Pictures và CBS Records rơi vào tay Sony, MCA lọt vào túi Matsushita… Cuối những năm 1980, nước Mỹ từ vai chủ nợ của thế giới trở thành con nợ, và Nhật là nước mua nhiều trái phiếu nhất của ngân khố Mỹ. Nợ, lệ thuộc, xài nhiều, sản xuất ít, cán cân thương mại bất quân bình, ngân sách quốc phòng quá nặng, cứ thế nước Mỹ sa sút dần, thầm lặng.

Rất sơ lược, đó là luận cứ của “phe suy tàn”. Những luận cứ ấy bị “phe chống suy tàn” đả kích kịch liệt, nhất là trên lĩnh vực kinh tế. Phe suy tàn có tiếng nói của Paul Kennedy. Phe chống suy tàn có danh tiếng của Joseph Nye. Trong quyển sách cũng nổi tiếng không kém: “Bound to lead: The Changing Nature of American Power”(Bắt buộc phải lãnh đạo: sự thay đổi bản chất trong sức mạnh của nước Mỹ) xuất bản năm 1990, Nye khai triển một khái niệm mới về sức mạnh bây giờ đã trở thành quá phổ thông: sức mạnh mềm.

Ông nói: những tiêu chuẩn mà cho đến nay vẫn được xem là căn bản để đánh giá sức mạnh – nguyên liệu, sản xuất công nghệ, khí giới vv…- không đủ để đánh giá đúng thực lực của một nước, vì đó chỉ là “sức mạnh cứng”; nước Mỹ còn có một sức mạnh khác, vô địch, mà ông gọi là “sức mạnh mềm”, nghĩa là những của cải không sờ mó được, ví dụ sức lôi cuốn của văn hóa, sức nặng trong các tổ chức quốc tế, sức ép thế giới phải theo lịch làm việc của mình. Muốn hiểu sức mạnh mềm, phải biết rằng thế giới của năm 1990 không phải là thế giới của 1941 hay 1961.

Toàn cầu hóa, kinh tế hỗ tương, vai trò quan trọng của các thế lực tư nhân (truyền thông, công ty đa quốc gia…), bước nhảy vọt từ giai đoạn kỹ nghệ qua giai đoạn hậu kỹ nghệ, phát triển của các tổ chức quốc tế, khuynh hướng mở rộng hợp tác đa phương… tất cả những biến chuyển đó đã làm thay đổi hệ thống quốc tế. Trong hệ thống mới đó, nước Mỹ vẫn nắm tất cả mọi nguồn sức mạnh như đã nắm trước đây – “sức mạnh mềm” để hấp dẫn, lôi cuốn, “sức mạnh cứng” để ép buộc. Quân sự, kinh tế, công nghệ thông tin, cứng hay mềm, nước Mỹ đều đứng đầu.

Thật ra, tranh luận về “suy tàn” của nước Mỹ không phải lúc nào cũng đặt trên cơ sở khoa học. Trừ vài quyển sách của đại học, và vài tác giả lớn như vừa nói, hầu hết các bài viết, nhiều vô kể, trên các báo và tạp chí, đều trộn lẫn tính cách khoa học và bút chiến giữa phe bảo thủ và phe cấp tiến, nhằm những mục đích khác có tính chính trị nội bộ.

Chưa kể, ngay trong giới đại học, một tác giả lừng danh thường có khuynh hướng nhấn mạnh quá mức cần thiết một luận cứ đáng gọi là khoa học, với cái nghĩa là nó làm thúc đẩy một tranh luận mới, những suy nghĩ mới. “Suy tàn của đế quốc” là một ví dụ, giống như “lịch sử chấm dứt” của Fukuyama hay “đụng độ giữa các văn minh” của Huntington.

Lại cũng chưa kể tâm lý của người Mỹ, chuyển biến theo chu kỳ, sau một giai đoạn hãnh tiến, tự hào, thỏa mãn, phách lối, thường tiếp theo một giai đoạn bi quan, hoài nghi, đặt dấu hỏi, xuống tinh thần. Từ 1945, bốn giai đoạn lên xuống như thế đã tiếp nối nhau. Lần thứ nhất, cuối những năm 1950, sau khi Liên Xô phóng vệ tinh Sputnik. Lần thứ hai, đầu những năm 1970 khi giá dầu tăng vọt làm chậm lại mức tăng trưởng kinh tế ở Mỹ. Lần thứ ba, vào giữa những năm 1980 khi dư luận ngay ngáy lo Nhật sẽ vượt Mỹ (1). Lần thứ tư, giữa lúc nước Mỹ vinh quang đại thắng chiến tranh lạnh: lạ thật, vào năm 1989 ấy, hơn nửa dân số Mỹ cho rằng nước Mỹ bắt đầu đi xuống!

Nhưng nước Mỹ không đi xuống mà lại đi lên! Đi lên với Clinton – một Clinton rạng rỡ (và đào hoa) đã mang lại phồn thịnh cho nước Mỹ. Ảnh: truyenhinhvietnam.tv

Nhưng nước Mỹ không đi xuống mà lại đi lên! Đi lên với Clinton – một Clinton rạng rỡ (và đào hoa) đã mang lại phồn thịnh cho nước Mỹ và đã dõng dạc tuyên bố nước Mỹ là mẫu mực của thế giới. Xa rồi, ám ảnh bị Nhật qua mặt. Kinh tế Nhật bây giờ tụt dốc, kinh tế Mỹ thăng thiên. Nước Mỹ tiếp tục đi lên như thế, về kinh tế, và nhất là về quân sự, với hai chiến dịch lẫy lừng: một chiến thắng từ trên không, với bom dội xuống Nam Tư cũ, kết thúc một chiến tranh mà Âu châu không thắng nổi, một chiến thắng ngay trên bộ, với một quân đội điều động từ xa tiến thẳng vào thủ đô Bagdad trong vòng sáu tuần lễ.

Sau đó, với một ông tổng thống tầm thường như Bush, nước Mỹ một mình cai quản thế giới, muốn làm gì thì làm, đánh không cần báo trước, quyết định không cần đồng minh, hành động đơn phương bất chấp luật quốc tế, lấy lợi ích của mình đè bẹp lợi ích của thiên hạ. Chưa bao giờ nước Mỹ ngạo mạn đến thế, hách dịch đến thế, “đế quốc” đến thế. “Từ sau đế quốc La Mã, chưa có tay chơi quốc tế nào thượng phong đến vậy” (2)

Thế nhưng, đây là lần thứ năm, luận thuyết suy tàn tái xuất, kéo dài tranh cãi cho đến ngày nay, với một nội dung tất nhiên dần dần khác trước. Dần dần, tại vì quả thực, chỉ trong vòng vài năm thôi, không ai còn nghĩ nước Mỹ như là đế quốc nữa. Tranh luận chuyển qua một khái niệm khác, đúng với vị thế của nước Mỹ bây giờ hơn, khái niệm mà không ngôn ngữ nào khác dịch sát nghĩa được, “leadership”, mà tôi tạm dịch là “lãnh đạo”. Từ vô thường của đế quốc, không chừng ta lại sắp phải nghe vô thường của lãnh đạo.

Lãnh đạo

“Nước Mỹ lãnh đạo” là niềm tin vững như núi của nước Mỹ, dựa trên một tình trạng mà ít ai chối cãi. Tuy vậy, ngay cả sự lãnh đạo đó, bây giờ có người cho là đã lung lay, có người cho là vẫn còn đấy nhưng đã đổi khác. Vấn đề này liên quan mật thiết đến ta.

Trước hết, nói đến lãnh đạo là nói đến sức mạnh, vẫn là sức mạnh. Vậy sức mạnh của Mỹ còn đủ để nước Mỹ đóng vai trò lãnh đạo và để thế giới nhận vai trò ấy không?

Còn đủ, phe “chống suy tàn” xác quyết như vậy. Không có một nước nào trên thế giới, ngoài Mỹ, nắm trong tay tất cả những yếu tố tạo nên sức mạnh: từ kinh tế, công nghệ, khoa học, sáng kiến, cho đến văn hóa, ý thức hệ.

Riêng về quân sự, không ai quả quyết chắc chắn hơn Robert Kagan vì ông này vẫn xem đó là tiêu chuẩn quan trọng nhất của sức mạnh. Mặc dù Mỹ vướng khó khăn ở Irak và Afghanistan, Kagan nhắc nhở: ngân sách quốc phòng của Mỹ vượt quá 500 tỷ đô la mỗi năm, không kể những chi phí phụ thuộc trị giá trên 100 tỷ nữa cho hai nước vừa kể. Cùng với ngân sách quốc phòng gia tăng, căn cứ quân sự của Mỹ ở nước ngoài cũng gia tăng theo.

Từ 11-9-2001, nước Mỹ đã xây hoặc bành trướng các căn cứ ở Afghanistan, Kyrgiztan, Pakistan, Tajikistan và Uzbekistan ở Trung Á; ở Bulgari, Georgia, Hungari, Ba Lan và Rumani phía châu Âu; ở Philipin, Djibuti, Oman, và Qatar. Mỹ không thiếu tiền để duy trì và khuếch trương hiện diện quân lực cùng khắp, mà cũng chẳng thiếu nước sẵn sàng hiến đất cho Mỹ làm căn cứ quân sự – nghĩa là không thiếu nước sẵn sàng nhận địa vị tối ưu của Mỹ nếu điều đó cần thiết để bảo vệ an ninh.

Thế nào là “vị thế tối ưu”? Kagan định nghĩa lại, chính xác hơn trước: tối ưu không phải là toàn quyền muốn làm gì thì làm, cũng không có nghĩa nước Mỹ lúc nào cũng có thể ép buộc được các nước khác phải làm theo ý mình. Nước Mỹ tối ưu vẫn có thể không thắng được ở Triều Tiên năm 1953, vẫn có thể thất bại ở Việt Nam năm 1975, vẫn phải rút lui thảm thiết khỏi Liban năm 1983, khỏi Somali năm 1994, vẫn không loại được Castro, vẫn có thể bất lực ở Trung Đông, vẫn bị chôn chân ở Afghanistan, vẫn dùng dằng nửa ở nửa về ở Irak.

Một siêu cường có thể thua một chiến tranh mà vẫn siêu cường nếu những điều kiện căn bản tạo nên sức mạnh quốc tế của siêu cường ấy vẫn tiếp tục hỗ trợ vị thế đó. Chừng nào nước Mỹ vẫn ở trung tâm của kinh tế thế giới, vẫn là sức mạnh quân sự bậc nhất, chừng nào những đối thủ của nước Mỹ vẫn còn làm cho láng giềng e sợ, cấu trúc của chính trị quốc tế vẫn sẽ đúng như Trung Quốc nói: một siêu cường, nhiều đại cường (3).

Đó là cách biện minh dễ chấp nhận nhất trong lý luận của phe tân bảo thủ. Sự thực, nước Mỹ ngày nay chỉ còn là nước mạnh nhất trong các nước mạnh nhất. Do đâu mà tình trạng ấy xảy ra? Ít nhất có 5 nguyên nhân (4).

Nguyên nhân gần nhất và dễ thấy nhất là lãnh đạo thảm hại của ông Bush. Ngay cả những đồng minh thân tín nhất của Mỹ – Đức và Thổ Nhĩ Kỳ – cũng mất tin tưởng ở Hoa Kỳ. Thế giới Hồi giáo thù ghét nước Mỹ. Thế giới nói chung mất cảm tình. Ông Bush đã thành công trong việc đánh mất uy tín của nước Mỹ. Ông tưởng có thể lãnh đạo bằng sức mạnh quân sự: với ông, cứng đã thế mềm, trong khi mềm mới chính là sức mạnh vô địch của nước Mỹ.

Nguyên nhân thứ hai là sự trỗi lên của những nước mạnh khác. Nga đang tìm lại vị thế của mình ở Đông Âu. Đang khẳng định mình phải có tiếng nói trên những điểm nóng của thế giới. Nhưng thấm gì Nga! Có ông đại cường kia đang hưng phấn rần rần, thách thức lãnh đạo của Mỹ, nghênh ngang đòi chia Biển Đông làm hai, đòi “lãnh đạo chung”, đòi G2, khỏi cần nói tên, tự thiên tử chí ư thứ dân, nhóc con cũng biết. Phiền thêm cho nước Mỹ: phóng nhiễm nguyên tử đã cho phép ít nhất hai nước ngang nhiên thách đố lãnh đạo của Mỹ: Bắc Hàn và Iran.

Nguyên nhân thứ ba là khó khăn càng ngày càng lớn trong việc diễn dịch sức mạnh. Nước Mỹ có thể là nước duy nhất có khả năng điều quân ra tận những chiến trường xa xôi, có thể là nước giàu nhất, tiên tiến nhất về công nghệ vv… , nhưng tất cả những lợi thế đó của sức mạnh vẫn có thể không đưa đến chiến thắng quân sự hoặc ngay cả ảnh hưởng. Cách mạng trong truyền thông tạo khả năng cho các nhóm vũ trang, các nhóm khủng bố đánh phá nước Mỹ hoặc đồng minh của Mỹ. Can thiệp quân sự cũng không phải dễ: khác với các nước độc tài, các nước dân chủ phải thuyết phục dân chúng, dư luận, bên tả bên hữu, kéo dài can thiệp lại càng khó hơn.

Nguyên nhân thứ tư là sự hình thành một thế giới vô trật tự, trong đó các thành viên mất phương hướng để định nghĩa rõ ràng ai là đồng minh, ai là đối thủ, đâu là tranh chấp, đâu là hợp tác. Cả Nga lẫn Trung Quốc đều là đối tác bắt buộc của Tây phương, nhưng đồng thời cũng là hai kẻ cạnh tranh nhức óc trong lĩnh vực này, địch thủ ghê gớm trong lĩnh vực khác.

Trong thế giới vô trật tự đó, kẻ yếu bắt nạt được kẻ mạnh, Al Qaida chẳng có sư đoàn nào mà chuột vẫn vuốt được râu mèo, chiến tranh với lực lượng bất cân xứng bị kẻ yếu khai thác triệt để, một trái bom chưa nổ trên máy bay đủ làm điên đảo cả hệ thống an ninh của kẻ mạnh nhất hoàn cầu. Mỹ vẫn mạnh nhất nhưng không kiểm soát được nữa vận mạng của thế giới.

Trước đây, Nam Mỹ là sân sau của Hoa Kỳ, bây giờ không phải chỉ có một Castro mà còn có một Chavez, một Morales. Ai tưởng tượng được rằng Mêhicô có thể bỏ phiếu chống quyết nghị của Mỹ ở Hội Đồng Bảo An hồi 2003 trong vụ Irak? Ai dám thấy trước lá cờ nhân quyền của Mỹ ngừng lại ở giữa cột cờ khi tiền bạc và nhân công của Trung Quốc chảy như suối vào các nước độc tài Phi châu?

Tình trạng phức tạp đó khiến cho Mỹ mất cái thế lãnh đạo, nếu lãnh đạo được hiểu theo nghĩa trước đây. Chúng ta, nói như một tác giả tên tuổi, đang chuyển dịch vào một “thế giới hậu Hoa Kỳ”(5) trong đó có nhiều ngón tay cùng chỉ đâu là sao Bắc đẩu.

Đó ý thức rõ rệt nhất hiện nay ở Mỹ: trong quan hệ giữa các quốc gia, cũng như trong quan hệ với những thế lực và những vấn đề xuyên quốc gia, nước Mỹ không còn đủ sức nữa để đương đầu một mình. Ngay cả trong lĩnh vực quân sự, hợp tác với các quốc gia khác là cần thiết cho nước Mỹ, dù là ở Afghanistan. “Rạng đông của một lãnh đạo mới” mà tổng thống Obama vẽ ra cho thế giới bắt nguồn từ nhận thức đó.

Tất nhiên, không tổng thống nào từ bỏ vị thế “lãnh đạo” của nước Mỹ. Vấn đề là phải định nghĩa lại “lãnh đạo” trong một thế giới mà sức mạnh của kẻ mạnh nhất đã bị tương đối hóa, hay nói cho đúng với ngôn ngữ của các tác giả Mỹ hơn, trong một thế giới mà nước Mỹ phải chứng kiến sự “đi lên của các nước khác” – “the rise of the rest”. Thế nào là “lãnh đạo” khi nước Mỹ bắt buộc phải hợp tác vì không đủ sức để hành động một mình?

Đây là quan điểm của một chính khách lớn, đồng thời cũng là một tác giả lớn, Z. Brzezinski: Hoa Kỳ phải “gợi ý đề ra những thái độ mà không phải là mệnh lệnh. Lãnh đạo này phải soi sáng một cách hợp lý ý nghĩa của quá khứ và hướng đi cho hiện tại; phải giúp để hiểu những tiến triển có tính quyết định thực sự của thế kỷ 21 này, lợi ích gì mà ta có thể rút ra từ đó, đe dọa gì mà thế giới đang gánh chịu.

Lãnh đạo như thế của nước Mỹ có chức năng xúc tác, xúc tiến, làm quy tụ, làm thay đổi. Không phải quy tụ đàng sau những sáng kiến do Hoa Kỳ quyết định mà là để định nghĩa những mục tiêu mà cộng đồng thế giới sẵn sàng cùng nhau theo đuổi. Một lãnh đạo như vậy là cần thiết”(6).

Nói như một nhân vật chính trị khác, đồng thời cũng là một tác giả lớn, lại là khách của nước ta đầu năm nay, Joseph Nye, “Hoa Kỳ phải động viên những thế liên kết quốc tế để đối phó với những đe dọa chung, thách thức chung. Như là nước lớn nhất, lãnh đạo của Mỹ vẫn còn là cốt tủy.

Vấn đề của nước Mỹ sau khủng hoảng kinh tế này không phải là vấn đề của suy tàn, mà là ý thức rằng ngay cả nước lớn nhất cũng không thể thực hiện mục tiêu của mình mà không cần đến sự giúp đỡ của những kẻ khác”(7) .

Câu nói đó liên quan tha thiết đến vận mệnh của nước ta. Ta không nhận một nước Mỹ đế quốc. Nhưng ta cần một nước Mỹ lãnh đạo trong định nghĩa vừa nói. Tại sao? Tại vì trong định nghĩa đó, nước Mỹ cũng cần ta. Hai bên cần nhau. Làm cho nhau hiểu sự cần thiết của nhau, đó là nền tảng của một nền an ninh mới, không những của Mỹ và của ta, mà của cả khu vực trong đó ta sống.

(Theo Người Đại biểu nhân dân)

Chú thích

(1) Xem Fareed Zakaria, How America can survive the rise of the rest, Foreign Affairs, May-June 2008, vol. 87, n°3.

(2) Z. Brzezinski and B. Scowcroft, L’Amérique face au monde, Pearson, 2008, tr. 21.

(3) Robert Kagan, End of Dreams, Return of History, Policy Review, August-September 2007.

(4) Bốn trong năm nguyên nhân được nói trong Pierre Hassner, Hyperpuissance américaine: la fin des illusions, Alternatives Internationales, décembre 2008.

(5) Zakaria, xem chú thích 1.

(6) Brzezinski and Scowcroft, xem chú thích 2, tr.44-45.

(7) Joseph Nye, American Power after the Financial Crisis, http://www.foresightproject.net/publications/articles/article.asp?p

Vietnamnet

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.