Võ Tòng Xuân – nhà báo… đặc biệt

Lao Động số 141 Ngày 23/06/2008 Cập nhật: Chủ Nhật, 22/06/2008 – 9:31 PM
Tâm huyết bàn bạc với Trưởng VP Báo Lao Động tại ĐBSCL về Trang miền Tây.
(LĐ) – Lâu nay nhắc đến GS-TS Võ Tòng Xuân, nhiều người nghĩ ngay đến người chủ của những công trình khoa học, giáo dục tầm vóc quốc gia và quốc tế, nhưng Anh hùng Lao Động, Nhà giáo Nhân dân này còn có “nghề tay trái” rất đặc biệt: Nghề báo.

Đặc biệt ở chỗ ông không chỉ đến với nghề từ rất sớm, mà còn bởi kỹ năng nghề rất đặc biệt. Ngòi bút của ông luôn tuôn trào những câu chuyện phản biện “đầy máu lửa” của trái tim nhân bản, tri thức uyên thâm và cũng chính ngòi bút này đã đưa ông trở thành tiến sĩ nông học trên đất nước hoa anh đào.

Ra nước ngoài làm báo…. Việt

Tính đến nay, ông đã có gần nửa thế kỷ gắn bó với báo chí trên cả phương diện là người trực tiếp hành nghề và “nhân vật báo chí”. Tuy nhiên, điều đặc biệt là ở chỗ ông vào nghề báo Việt khi đã xuất ngoại. Chuyện bắt đầu vào năm 1962, sau khi trúng tuyển học bổng do Quỹ Rockefeller tài trợ vào ĐH Nông nghiệp tại Los Banos (Philippines), việc làm đầu tiên của tân sinh viên Võ Tòng Xuân là sắm máy chụp hình hiệu Pentax tập làm báo ảnh…

Đến nay đã gần nửa thế kỷ trôi qua, nhưng ông vẫn nhớ như in: “Ngày đầu nhập học, thấy tôi nghèo “rớt mùng tơi” nên người đại diện Quỹ Rockefeller đã “cho lại” tiền vé máy bay. Đây là số tiền mà cha tôi phải vay mượn nhiều nơi mới có được. Vì vậy sau khi xin phép và được cha đồng ý, tôi mới mua máy Pentax để bước đầu làm quen với nghề chụp hình”…

Sau đó, ông tự nguyện làm nhiếp ảnh không lương cho tờ báo hàng tuần của sinh viên trường, để có điều kiện xin vào phòng thí nghiệm bộ môn hoá của trường học nghề tráng phim, phóng và rửa ảnh. Là sinh viên nghèo du học, để gắn được với nghề, ông phải trả học phí cao hơn cả tiền bạc. Bởi đó không chỉ là lòng kiên nhẫn, sự sáng tạo cao độ, mà còn có cả máu và nước mắt.

Chỉ riêng việc có được “buồng tối”, ông phải tự sáng tạo ra “cái hộp đen di động” để khi cần, có thể mang vào phòng tắm tập thể của nhà trọ để làm, khi kết thúc thì có thể “gắp” gọn lại vào gầm giường cá nhân. Hay là lần chụp ảnh được trả công bằng ba chữ “rất cảm ơn”. Lần đó, ông được vị mục sư nhà thờ Tin Lành trong trường mời theo chụp ảnh “lễ đón bình minh” ngày Chúa Phục sinh. 4 giờ sáng, ông khệ nệ vác máy lên đồi rồi tìm góc máy ưng ý, chụp hơn 3 cuộn phim loại 36 pô. Hôm sau, cầm ảnh đến nhà thờ, bụng cứ nghĩ đến viễn cảnh sử dụng khoản thù lao mà lát nữa nhà thờ sẽ trả. Nhưng thật bất ngờ, khi xem ảnh xong, vị mục sư gật đầu hài lòng rồi nói vỏn vẹn: “Rất cảm ơn”.

Không dừng lại ở báo ảnh, vào năm thứ ba đại học, ông lại lấn sân sang lĩnh vực phát thanh. Thấy đài Philippines phát sóng chương trình văn hoá nhiều nước Á Châu mà không có chương trình Việt Nam, ông viết thư cho đài hỏi thăm. Khi đài trả lời là do không có người am hiểu, ông tự nguyện làm không… công. Lời đề nghị quá “ưu đãi” này ngay lập tức được nhà đài chấp nhận. Thế là sau những giờ lên giảng đường, ông lại đến đài, học cách biên tập chương trình, cách điều khiển các bộ phận trong phòng thu. Sau thời gian ngắn, ông trở thành người “nhà đài”, được hưởng chế độ như nhà báo chuyên nghiệp.

GS-TS Võ Tòng Xuân tác nghiệp báo chí khi còn là SV ĐH ở Philippines.

Nhà báo đa năng

Là người làm công tác khoa học, công tác sư phạm, nhưng GS-TS Võ Tòng Xuân còn là nhà báo đa năng với đầy đủ ý nghĩa của từ này. Không chỉ có khả năng “tả xông, hữu đột” trên các lĩnh vực báo nói, báo ảnh, báo viết, ông còn viết kịch bản và là một trong những người đầu tiên hành nghề báo hình bằng máy thu phát video.

Năm 1965, ông lấn sân sang lãnh địa báo viết và gặt hái thành công ngay lần khai bút. Lúc đó đang học năm thứ tư đại học, tình cờ trong lần được Đại sứ quán Việt Nam tại Philippines nhờ làm thông dịch cho nhóm cán bộ diệt trừ sốt rét của Việt Nam sang Manila học lớp huấn luyện về “Phương pháp huấn luyện cho người học nghề” – do chuyên gia Hoa Kỳ giảng – ông học được phương pháp truyền đạt báo chí. Nhờ đó mà sau khi kết thúc khoá huấn luyện, ông liên tục cho ra đời nhiều bài viết về kỹ thuật trồng lúa. Đến năm 1972, Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) tập hợp những bài viết này lại và xuất bản thành quyển “Cẩm nang huấn luyện kỹ thuật trồng lúa cao sản”.

Tuy nhiên, “nổi đình nổi đám” nhất là chuyện ông làm kịch bản cho Đài Truyền hình TPHCM và Cần Thơ. Trước tình hình nông dân thiếu kiến thức khoa học nông nghiệp, đầu năm 1978, ông tìm đến nhà đài bàn và được thống nhất cho mở Chương trình khoa học kỹ thuật nông nghiệp, mỗi tuần phát hình 30 phút, với điều kiện ông lo viết kịch bản kiêm đóng kịch. Lúc đó, việc đưa khoa học kỹ thuật lên truyền hình cho nông dân học là một cách làm mới, nên ông phải “phóng bút” để người xem – nhất là nông dân – dễ hiểu, dễ nhớ, dễ chấp nhận và dễ làm theo.

Vì vậy, ông phải chuyển nghĩa những thuật ngữ chuyên ngành thành những câu chữ mà nông dân thường dùng, dùng tiếng nói của nông dân để trình bày những kỹ thuật mới. Do vậy, chương trình nhanh chóng được khán giả ưa thích không kém các chương trình cải lương! Để hỗ trợ kỹ thuật cho chương trình này, năm 1981, ông đã nhờ GS Edward Cooperman – Chủ tịch Hội các Nhà khoa học Mỹ – xin một số thiết bị tối cần như máy thu phát video và trở thành người tiếp nhận bộ máy video đầu tiên trong nước, gồm có bốn đầu máy Betamax, hai đầu máy Umatic và hai máy camera Sony.

Nói “đầu tiên” vì lúc đó chưa cơ quan nào trong nước biết dùng loại thiết bị hiện đại này. Khi nhập vào, Hải quan TPHCM đòi phải có giấy phép của Bộ Văn hoá – Thông tin và khi xin được giấy phép, họ lại ghi rõ chi tiết từng số máy như là đối với xe gắn máy bây giờ. Về đến Cần Thơ, trình với Sở Văn hoá – Thông tin, rồi lại ghi từng số máy…

Nhà báo – nhà khoa học

Tính đến nay, tập hợp các tác phẩm đầu tay “Cẩm nang huấn luyện kỹ thuật trồng lúa cao sản” do ông viết từ những năm 1960 vẫn còn nguyên giá trị ứng dụng, khi được IRRI tái bản đến hàng chục lần. Chính “tầm nhìn xa” của nhà khoa học và khát vọng phục vụ người nghèo đã tạo nên điểm nhấn làm nên sự khác biệt ở cây bút Võ Tòng Xuân: Khi viết báo, ông là nhà khoa học với tư duy logic, chính xác và thận trọng đến từng chi tiết. Khi diễn đạt một vấn đề khoa học, ông lại là nhà báo chuyên nghiệp đến từng câu chữ.

Vì vậy có những chuyện – dù biết rõ là đưa lên mặt báo sẽ bị ăn “đòn hội đồng” của búa rìu dư luận, ông vẫn chấp nhận dấn thân, vì ông biết rằng đây chính là cách góp ý, “phản biện xã hội” hiệu quả nhất để Đảng, Nhà nước điều chỉnh chủ trương có lợi cho người nghèo, nhất là nông dân.

Thí dụ, ngay thời điểm 1990, trong bài viết đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn, ông đưa ra ý tưởng: Cho tư nhân tham gia xuất khẩu gạo. Ra đời trong bối cảnh toàn xã hội tập trung lo chuyện an ninh lương thực, nên nhiều đồng nghiệp cho là ông tự nhảy vào lửa… Và thực tiễn đã chứng minh, kiến nghị “trái tai” của ông ngày nào đã giúp cho Nhà nước có được sự chủ động khi hoà nhập với cơ chế thị trường. Khi đã lãnh sổ nghỉ hưu, ông đã lên mặt báo “đấu” quyết liệt với chủ trương hạn chế xuất khẩu gạo (mới đây) làm sụt giảm ảo giá lúa, gây thiệt hại cho nông dân.

Có thể nói, dù chỉ là nhà khoa học thích viết báo, nhưng nhiều bài viết của ông luôn có được độ “nảy lửa” mà không phải người cầm bút chuyên nghiệp nào cũng có được. Điều này không chỉ thể hiện ông có năng lực chuyên môn giỏi, mà còn có cả trái tim lớn, dám chấp nhận gánh lấy những điều tiếng về riêng mình để nông dân có được cơ hội đổi đời. Bởi có những chuyện, những vấn đề rất nhạy cảm, mà chỉ cần sơ suất nhỏ là không “mất đầu” cũng “mất ghế”.

Thí dụ, ngay lúc báo chí cả nước đang rầm rộ ca ngợi đề án cầu Mỹ Thuận, thì ông lại viết báo: “Làm cầu thì mấy anh đi, tôi đi, chớ nông dân đâu có đi! Chi bằng dành tiền ấy thay các cầu khỉ cho nông dân, để bà con làm ăn khấm khá rồi thu thuế làm cầu sông cũng chưa muộn”. Nhiều người cơ hội đã vội vàng quy chụp bài báo là “phản đối” chủ trương Chính phủ, nhưng chính sự chính xác, khoa học của bài báo này đã thuyết phục được người đứng đầu Chính phủ. “Sau khi có buổi làm việc trực tiếp với tôi, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói: Thư thả làm xong cầu, Chính phủ sẽ thu thuế qua cầu, lấy tiền làm cầu thay cầu khỉ cho nông dân…” – ông nhớ lại.

Với Võ Tòng Xuân, báo không chỉ là “đạo” để chở đầy những giải pháp cho quốc kế, dân sinh…, mà chính là chìa khoá mở cánh cửa bước vào chân trời khoa học. Chuyện bắt đầu vào năm 1971, sau khi lấy bằng thạc sĩ tại Philippines, ông quyết định về giảng dạy tại Trường Cao đẳng Nông nghiệp (Viện ĐH Cần Thơ). Thời gian này, trường được Nhật Bản hỗ trợ giáo sư sang giảng dạy và nghiên cứu. Một trong những giáo sư ấy là ngài Jun Inouye, rất mê say nghiên cứu lúa, đã cùng ông nghiên cứu nhiều khía cạnh của các loại lúa của ĐBSCL. Kết quả nghiên cứu trong 2 năm được ông thể hiện thành 3 bài báo trên tạp chí Crop Science (Nhật Bản). Và cũng chính nhờ công trình báo chí này mà Nhật Bản đã đồng ý cho ông làm thủ tục lấy bằng tiến sĩ tại Đại học Kyushu vào giữa tháng 2.1975.

Lục Tùng

No comments yet

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: