Tu duy đào bới: Bất cập ngành than

Theo TS. Nguyễn Thành Sơn: Số liệu về trữ lượng/tài nguyên than do TKV báo cáo lãnh đạo đảng và nhà nước trước đây rất lớn, tạo ra ảo giác là VN có rất nhiều than. Thực tế thăm dò cho thấy, tiềm năng chỉ là dự báo và phỏng đoán.

‘Mỗi anh ôm một ít’

Ảo giác giàu than

Tiềm năng than của VN được dự báo rất lớn (bể than Đông Bắc khoảng 10 tỷ tấn và bể than Đồng bằng sông Hồng khoảng 210 tỷ tấn) nhưng, trữ lượng đã được thăm dò đến nay là rất nhỏ.

Các số liệu về trữ lượng/tài nguyên than do TKV báo cáo lãnh đạo đảng và nhà nước trước đây rất lớn, tạo ra ảo giác là VN có rất nhiều than. Thực tế, TKV đã hiểu sai các tiêu chí xác định thế nào là trữ lượng dẫn đến kết quả tính rất lớn nhưng phi kỹ thuật và phi kinh tế, chưa phân biệt rõ “trữ lượng” đã được chứng minh sau khi đã có thăm dò và “tiềm năng” chỉ là dự báo và phỏng đoán.

Trong gần 60 năm qua, VN đã đầu tư cho khâu thăm dò than khoảng 5500 lỗ khoan với tổng số hơn 2 triệu mét khoan sâu (mks), tập chung chủ yếu ở Quảng Ninh. Nhờ vậy, ở bể than Đông Bắc đã chứng minh được khoảng hơn 2,5 tỷ tấn than là có thật (trong tổng số khoảng 10 tỷ tấn dự báo).

Vùng Đông Triều-Phả Lại có triển vọng than rất thấp. Tài nguyên dự tính hàng tỷ tấn, nhưng không dựa trên tài liệu thăm dò địa chất (vùng này duy nhất chỉ có 1 báo cáo địa chất của mỏ Cổ Kênh), mà chỉ dựa trên tài liệu của Báo cáo thành lập bản đồ tỷ lệ 1/25.000. Hiện nay, các lỗ đã khoan trong dự án của NEDO đang triển khai cho thấy vùng này ít than.

Ở bể than Đồng bằng sông Hồng, khối lượng công tác thăm dò địa chất hầu như chưa đáng kể (110 lỗ khoan thăm dò than với khoảng 46.230 mks ở vùng Hưng Yên), mới chỉ chứng minh được khoảng 166 triệu tấn trữ lượng than ở vùng Hưng Yên (trong tổng số 210 tỷ tấn dự báo).

Khai thác than lậu ở Quảng Ninh. Ảnh VNN

Gần đây, tham khảo thêm khoảng 100 lỗ khoan thăm dò dầu khí đã gặp than ở vùng Thái Bình, Công ty Năng lượng Sông Hồng của TKV đã thu thập tài liệu và tổng hợp đánh giá tài nguyên than vùng Phủ Cừ-Tiền Hải. Kết quả cho thấy, dự tính đến độ sâu -1200m, ở vùng Phủ Cừ-Tiền Hải có khoảng 37 tỷ tấn tài nguyên suy đoán đến cấp 334b, trong đó, có 7 tỷ tấn ở độ sâu -300m/-600m; 13 tỷ tấn ở độ sâu -600m/-900m và 17 tỷ tấn ở độ sâu -900m/-1200m. Con số 37 tỷ tấn là hiện thực nhất để suy đoán về tài nguyên than của bể than ĐBSH (nên thay cho con số 210 tỷ).

Than bùn ở VN (theo đề tài “Tổng hợp tài liệu địa chất và đánh giá tiềm năng than bùn” do Bộ Mỏ và Than triển khai năm 1985) có tiềm năng khoảng 7,1 tỷ m3 (về nhiệt năng tương đương với tài nguyên than đá từ mức -300m trở lên của bể than QN). Nhưng than bùn nằm phân tán ở 216 điểm mỏ, trên địa bàn của 47 tỉnh, thành. Trong đó, vùng Nam Bộ- 5 tỷ m3, vùng Bắc Bộ- 1,65 tỷ m3, và vùng Trung Bộ- 0,45 tỷ m3.

Than bùn dễ khai thác và có giá trị sử dụng cao (phát điện và làm phân bón). Nhưng, vùng than bùn lớn nhất là Kiên Giang-Minh Hải-Cà Mâu lại thuộc khu bảo tồn sinh thái (là lý do chủ yếu mà Bộ Mỏ và Than trước đây đã không tiếp tục nghiên cứu khai thác than bùn ở khu vực này để làm chất đốt).

Tuy nhiên, trong tương lai, khi nước biển dâng, vùng than bùn này sẽ có nguy cơ bị nhấn chìm, vĩnh viễn sẽ không thể khai thác được.

Theo Tổ chức năng lượng quốc tế, VN chưa có tên trên bản đồ than của thế giới và trong tổng số khoảng 929 tỷ tấn trữ lượng than tin cậy của thế giới tính đến tháng 1/2006, VN chỉ được gộp trong số các nước còn lại của châu Á không nằm trong khối OECD với tổng trữ lượng chung chỉ có 9,7 tỷ tấn.

Thực trạng ngành than thời gian qua

Theo các số liệu gần nhất và đáng tin cậy nhất (văn bản 1566/TKV-KH ngày 31/3/2010 của TKV), thực trạng ngành than trong thời gian 5 năm 2005/2009 như sau:

Về các chỉ tiêu chủ yếu đã thực hiện: tổng than nguyên khai- 203 tr.tấn; tổng than tiêu thụ- 189 tr.tấn; tổng đất đá bốc- 994 triệu m3; tổng đường lò đào mới- 1.366 km; tổng doanh thu- 202.340 tỷ đồng, trong đó, doanh thu từ than- 126.712 tỷ đồng (63%), doanh thu ngoài than- 75.627 tỷ đồng (37%); tổng lợi nhuận trước thuế- 19.903 tỷ đồng; tổng nộp ngân sách- 19.309 tỷ đồng; tổng vốn đầu tư: 55.839 tỷ đồng, trong đó, đầu tư cho than- 24.534 tỷ đồng (chiếm 44%); vốn đầu tư vay thương mại- 40.291 (chiếm 72%); tổng lao động đến 31/12/2009- 126.000 người; lương bình quân- 5,999 tr.đ/ng.tháng; tổng vốn chủ sở hữu đến 31/12/2009- 17.983 tỷ đồng.

Về thăm dò địa chất: Trong 15 năm qua, tổng số lỗ khoan thăm dò địa chất được TKV thực hiện 2720 lỗ, tổng số mét khoan đạt 675.120mks. Chiều sâu khoan thăm dò bình quân 248m. Đơn giá khoan b/q là 3,5 tr.đ/mks. Kết quả là, trữ lượng than cấp A+B+C1+C2 chỉ tăng từ 3,4 tỷ tấn (năm 1995) lên 3,9 tỷ tấn (năm 2009). trong đó, trữ lượng tin cậy cấp A+B hầu như không thay đổi (năm 1995 có 485,4 tr.tấn, và năm 2009 cũng chỉ có 478,7 tr.tấn), phần tăng thêm của trữ lượng chủ yếu cấp C2 (năm 1995 có 1,198 tỷ tấn, năm 2009 tăng lên 1,609 tỷ tấn).

Mặc dù đầu tư lớn cho khâu thăm dò địa chất (khoảng 2.300 tỷ đồng), nhưng độ tin cậy của trữ lượng (tỷ trọng cấp A+B) lại giảm. Nhiều dự án đầu tư mỏ mới không có đủ trữ lượng tin cậy theo qui định.

Mức độ thăm dò 15 năm qua chỉ vừa đủ đáp ứng nhu cầu duy trì sản lượng (đã khai thác 441,6 triệu tấn). Điều này còn chứng tỏ tiềm năng về than của vùng Quảng Ninh không phải như chúng ta hy vọng và việc phát triển các mỏ mới ở vùng Quảng Ninh đang có rủi ro cao về trữ lượng.

Ngoài ra, TKV đã tự điều chỉnh tiêu chí tính trữ lượng than theo hướng đưa vào tính trữ lượng cả những vỉa than không có giá trị và không có khả năng khai thác (chiều dầy tính trữ lượng của vỉa đã được giảm từ 1,0m xuống đến 0,3m, độ tro của than đã được tăng từ 45% lên tới 50%). Hiện nay, trên thế giới, kể cả bằng công nghệ lộ thiên và công nghệ hầm lò đều chưa thể khai thác được các vỉa than có chiều dầy 0,3m. Việc thay đổi tiêu chí tính trữ lượng than trong quá khứ vừa là một hành động cơ hội, vừa là để “bật đèn xanh” cho việc pha trộn đất đá vào than chạy theo thành tích. Việc này cần phải được ngăn chặn vì hiệu quả chung của nền kinh tế.

Về hiệu quả sản xuất kinh doanh

Tuy khối lượng than nguyên khai và than tiêu thụ tăng, nhưng chất lượng không những không tăng, mà còn bị giảm. Trong tự nhiên, trong số các chỉ tiêu về chất lượng của than (độ tro, độ ẩm, cỡ hạt, lưu huỳnh, phẩm cấp, v.v.) chỉ có một chỉ tiêu hầu như không thay đổi là lưu huỳnh vô cơ. Các chỉ tiêu còn lại thay đổi rất lớn trong quá trình khai thác, chế biến, và có ảnh hưởng rất quyết định đến hiệu quả SXKD, đặc biệt là độ tro và cỡ hạt than tiêu thụ. Thực tế cho thấy, chất lượng than nguyên khai giảm, chất lượng than tiêu thụ cũng giảm. Nếu tính yếu tố “chất lượng”, thì bức tranh về “sản lượng” của TKV sẽ khác hẳn.

Tàu cập cảng, lên than tại khu vực cảng 10/10 (Cẩm Phả, Quảng Ninh). Ảnh VNN

Lợi nhuận thời gian qua có được chủ yếu nhờ xuất khẩu than với giá cao và được nộp thuế tài nguyên thấp. Than xuất khẩu từ trước đến nay chưa được hạch toán đúng và đủ các chi phí riêng có liên quan đến xuất khẩu. So với than tiêu thụ trong nước, than xuất khẩu có giá thành cao hơn, có tỷ lệ thu hồi thấp hơn, phải qua các khâu tuyển, truyền tải, v.v. Nếu hạch toán đúng và đủ, giá thành bình quân của than tiêu thụ trong nước sẽ thấp hơn.

Vietmindo là một doanh nghiệp chỉ khai thác than 100% vốn nước ngoài của Indonesia, từ trước đến nay nộp 10% doanh thu (chưa kể thuế) cho VN, nhưng vẫn hoạt động có hiệu quả ngày càng cao, ngay trên cùng địa bàn với các doanh nghiệp của TKV. Trong 5 năm, mặc dù còn được kinh doanh đa ngành, tổng số TKV nộp (kể cả thuế) cho ngân sách 19.309 tỷ đồng, cũng chỉ tương đương 10% tổng doanh thu (202.340 tỷ đ.).

TKV thường biện luận cho việc đẩy mạnh xuất khẩu là “xuất khẩu những loại than trong nước không có nhu cầu”. Nhưng trên thực tế, than xuất khẩu chủ yếu vừa qua và hiện nay là than dùng cho phát điện (loại than thị trường trong nước đang có nhu cầu và sẽ phải nhập khẩu trong tương lai). Việc xuất khẩu than dùng cho điện đã đặt các nhà máy nhiệt điện của VN phải cạnh tranh với các nhà máy điện của TQ và Thái Lan ở thế bất lợi, làm cho việc cung cấp than cho điện trong nước không ổn định.

Hoạt động sản xuất kinh doanh kém hiệu quả của TKV thể hiện: từ năm 2005-2010, vốn đầu tư tăng 8 lần (từ 4.100 tỷ lên 33.100 tỷ), vốn chủ sở hữu tăng gần 4 lần (từ 5.546 tỷ đồng lên 19.583 tỷ đồng), nhưng lợi nhuận trước thuế gần như không tăng (năm 2005 là 3.130 tỷ đồng, và năm 2010 dự kiến là 3.200 tỷ đồng). Tỷ suất lợi nhuận trên vốn giảm khoảng 4 lần. Lương bình quân trong cùng kỳ chỉ tăng 1,56 lần (còn thấp hơn mức tăng lương cơ bản của nhà nước).

Về đầu tư phát triển

Mặc dù tỷ lệ than xuất khẩu cao, nhưng việc đầu tư chủ yếu vẫn bằng vốn vay, kể cả đầu tư cho than. Tổng mức đầu tư 2005/2010 dự kiến là 89.140 tỷ đồng (tr. đó, 2005/2009 đã thực hiện là 55.830 tỷ đồng), cao hơn lợi nhuận trước thuế 3,9 lần (tổng lợi nhuận trước thuế 2005/2010 dự kiến là 23.103 tỷ đ.), cao hơn tích lũy 5,1 lần.

Đầu tư chủ yếu là ra ngoài than, trong khi tích lũy chủ yếu từ than. Tỷ trọng đầu tư cho than thấp và ngày càng giảm: từ 65% năm 2005, xuống còn 34% năm 2010, bình quân giai đoạn 2005/2010 chiếm 40%. Đây là một nguy cơ, vốn vay chủ yếu là nhờ vào uy tín của “than”, dựa vào than để vay, nhưng thực tế đầu tư cho than rất ít so với nhu cầu.

Hậu quả của việc phát triển không bền vững của TKV là trong suốt 15 năm qua, chưa có mỏ than mới nào được đầu tư đưa vào hoạt động để mở rộng năng lực khai thác của toàn ngành.

Lĩnh vực đầu tư ngoài than chủ yếu là nhiệt điện chạy than. Trong khi, các dự án nhiệt điện chạy than của TKV đang vận hành (Na Dương, Cao Ngạn) đều phải bao cấp giá than đầu vào (giá than cấp cho Cao Ngạn thấp hơn giá thực tế, giá than cấp cho điện Na Dương chưa tính hết chi phí đổ thải đất đá trên bờ vách), nhưng vẫn không có lãi. Dự án điện Cẩm Phả mới đưa vào vận hành nhưng chưa thể chạy 20% bùn than theo thiết kế.

Về quản lý kỹ thuật

Việc hiện đại hoá ngành than đã và đang được thực hiện thông qua những dự án khoa học công nghệ kém hiệu quả như tuyển bã sàng bằng huyền phù tự sinh, cơ giới hoá khấu than lò chợ bằng các loại dàn “KDT” hay “Vinaalta”, đào lò bằng máy liên hợp, băng tải ống Mạo Khê v.v.

Trong khai thác hầm lò: Lò chuẩn bị sản xuất là những đường lò đào chủ yếu trong than, lò đào trong đá chỉ chiếm 5-10%, nhưng thực tế lò đào trong đá đã tăng lên tới 23% về khối lượng và chiếm 50% về giá trị. Hầu hết các mỏ hầm lò (trừ Tcty Đông Bắc và Cty than Nam Mẫu) đều có số lượng lò chuẩn bị sản xuất phải đào trong đá còn cao hơn lò XDCB phải đào trong đá. Điều này không thể chấp nhận được về kỹ thuật và kinh tế. Con số này cho thấy: hoặc là có sự gian lận trong hạch toán giá thành hoặc là việc quản lý kỹ thuật cơ bản kém.

Mặc dù lò CBSX có thời gian tồn tại dưới 1 năm, nhưng tỷ lệ lò phải chống bằng sắt đã tăng lên đáng kể. Trong tổng số hơn 257 km đường lò chuẩn bị sản xuất năm 2009 có tới 184 km được chống bằng sắt (hơn 71%). Đây là một lãng phí rất lớn do buông lỏng công tác quản lý kỹ thuật cơ bản về đào, chống lò (từ thiết kế, lập hộ chiếu chống lò đến tổ chức thi công v.v.).

Mặc dù tỷ lệ lò được chống bằng sắt cao, nhưng tình trạng đường lò vẫn rất kém, không đảm bảo an toàn, đòi hỏi phải sửa chữa lại (chống xén). Trong giá thành năm 2009 có gần 73 km đường lò chống xén, trong đó có tới hơn 54 km lò chống sắt. Số mét lò phải chống xén (sửa chữa lại) gần bằng 30% số mét lò đào mới, trong đó lại chủ yếu là những lò chống bằng sắt chứng tỏ hoặc là có sự gian lận, hoặc là kỹ thuật đào và chống lò đã được quản lý rất tuỳ tiện.

Việc quản lý kỹ thuật cơ bản trong khâu đào chống lò của TKV bị buông lỏng ngay trên giấy: Trong năm 2009, với tổng số mét lò đào trong than (cả CBSX và XDCB) là 230.337m, lẽ ra, TKV có thể thu hồi được ít nhất 2,91 triệu tấn than, nhưng theo số liệu chính thức, chỉ thu hồi được 2,52 tr.t, như vậy nền kinh tế đã bị mất tới hơn 380 ngàn tấn than (trong đó: mỏ Mông Dương ít nhất 74.000 tấn, Đông Bắc- 72.000 tấn, Khe Chàm- 58.000 tấn, Uông Bí- 50.000 tấn, Dương Huy- 36.000 tấn, Vàng Danh- 36.000 tấn v.v.). Đây là con số không nhỏ. Nếu tính giá thành b/q của than hầm lò là 600.000đ/tấn, giá trị tổn thất chỉ riêng trong khâu đào lò đã lên tới hơn 220 tỷ đồng/năm!

Trong khai thác lộ thiên, chi phí lớn nhất là vận chuyển đất đá (chiếm hơn 70%). Cung độ vận chuyển đất đá bình quân (2009) chỉ có 2,67km, lý do mà TKV giải trình giá thành than tăng cao so với trước đây vì phải “đi xa” là không đứng vững. Hệ số bóc đất tăng lên tới 8,17m3/tấn là con số đáng kể ảnh hưởng tới giá thành than lộ thiên. Hệ số bốc đất càng cao thì tình trạng kỹ thuật của mỏ lộ thiên phải càng tốt (với điều kiện đất đá bốc phải trong biên giới kết thúc mỏ). Thực tế các mỏ lộ thiên hiện nay có tình trạng kỹ thuật của khai trường rất đáng lo ngại. Điều không kém phần quan trọng là việc đổ thải đất đá hiện nay của các mỏ không cho phép quản lý được khối lượng đất bốc. Chỉ riêng mỏ lộ thiên Khánh Hoà, cơ quan điều tra đã phát hiện khối lượng đất đá bị khai gian đã chiếm tới 20%.

Ở các mỏ lộ thiên, năm 2010 khối lượng phải thuê ngoài lên tới hơn 67 triệu m3 đất đá bốc (chiếm tới 30%) và 11 triệu tấn than (chiếm tới 41%) là những kẽ hở rất lớn trong quản lý chi phí. Đặc biệt mỏ than Núi Béo, để chạy theo thành tích đạt sản lượng 5 tr.tấn/năm, khối lượng thuê ngoài lên tới 11 triệu m3 đất đá bốc (50% khối lượng) trong khi nguy cơ không có việc làm của hàng ngìn CBCNV của mỏ này đang cận kề. Xét về mặt kỹ thuật, nếu sản lượng của mỏ này được duy trì ở mức 2-2,5 triệu tấn/năm, chúng ta hoàn toàn có thể thực hiện việc đổ đất đá thải vào bãi thải trong để giảm chi phí hàng ngìn tỷ đồng, và điều quan trọng hơn là hạn chế được nguy cơ bục nước từ bãi thải trong vào mỏ hầm lò Núi Béo trong tương lai mà chúng ta đang triển khai xây dựng. Ngoài ra, việc đổ bãi thải trong sẽ góp phần quan trọng vào việc bảo vệ môi trường của vùng Hòn Gai, đáp ứng yêu cầu của địa phương.

Chất lượng than nguyên khai ngày càng giảm. Độ tro bình quân của than nguyên khai lên tới 36,18% là con số không bình thường. Thậm trí có những mỏ (như Mạo Khê, hay Cty than Uông Bí) độ tro than nguyên khai gần 42%- cao hơn cả độ tro tối đa của than “trong cân đối” (dưới 40%). Điều này cho thấy: hoặc là công tác làm sạch mặt tầng, công nghệ xử lý các tam giác vách và trụ (ở các mỏ lộ thiên) và công nghệ đào lò chuẩn bị và khấu than (ở các mỏ hầm lò) không đúng kỹ thuật đã làm cho hệ số “làm bẩn” tăng lên, hoặc là có sự gian lận pha trộn cả than xấu và đất đá vào than nguyên khai để tăng sản lượng và để được tính vào giá thành làm tăng chi phí sản xuất.

Chất lượng than sạch ngày càng xấu: tỷ lệ than có chất lượng cao (than “tiêu chuẩn VN”, đặc biệt là than cục) ngày càng giảm và tỷ lệ than có chất lượng thấp (than “tiêu chuẩn ngành” và “tiêu chuẩn cơ sở”) ngày càng tăng. Trong năm 2009, chỉ tính riêng các loại than có chất lượng thấp từ cám số 6 trở xuống đã lên tới gần 17,87 triệu tấn, chiếm 45% sản lượng than sạch của của TKV. Trong khi đó, tỷ lệ than cục (kể cả các loại cục 7b có độ tro tới 45%) cũng chỉ chiếm 5,7%.

Đây là một bất cập không thể cứ nhắm mắt bỏ qua vì không chỉ làm giảm hiệu quả kinh tế của chính TKV (giảm giá bán bình quân), mà còn làm tăng chi phí sử dụng than của nền kinh tế quốc dân (tăng chi phí vận tải khống một lượng đất đá khổng lồ bị pha lẫn trong than, tăng chi phí đầu tư của các hộ dùng than lớn như điện, xi măng).

Lập luận cho rằng tỷ lệ than cục thấp là do công nghệ (cơ giới hoá khấu than cao) là không có cơ sở vì tỷ lệ khấu than bằng cơ giới hoá thực tế chỉ chiếm có 2,34% (không đáng kể) đối với các mỏ hầm lò, còn đối với các mỏ lộ thiên thì công nghệ khai thác than vẫn như cách đây 50 năm. Phẩm cấp than sạch ngày càng xấu là do chạy theo thành tích sản lượng. Trong khi đó, TKV hiện đang rất tích cực đầu tư xây dựng mới các nhà máy sàng tuyển than tập chung, mà đã từ lâu chúng tôi cho rằng vừa không cần thiết, vừa quá đắt, vừa không có hiệu quả.

Còn nữa

http://www.tuanvietnam.net/2010-05-13-bat-cap-nganh-than

No comments yet

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: